Những hạn chế nguyên nhân trong quản lý nợ xấu

Có thể tóm tắt lý do cho các hoạt động quản lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam vẫn còn hạn chế do:

Các ngân hàng nguyên nhân bên ngoài trong quản lý nợ xấu

1.1. Môi trường pháp lý không thuận lợi

Môi trường pháp lý trong mọi hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại đang thiếu và không đồng bộ nên đã gây khó khăn trong việc quản lý các khoản nợ xấu của các ngân hàng. Các tài liệu quy định trong phối hợp giữa các phòng ban trong việc xử lý nợ chậm triển khai. Việc xử lý tài sản thế chấp liên quan đến đất đai vẫn còn có vấn đề. Ngoài ra, các văn bản pháp luật của Việt Nam cũng tồn tại
nhiều bất cập. Cụ thể:

Hạn chế trong hoạt động quản lý nợ xấu
Kết quả đạt được trong công tác quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
Môi trường pháp lý cho việc quản lý các khoản nợ xấu
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý nợ xấu
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý các khoản nợ xấu
- Đối với các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động của các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp: quy tắc cho việc chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở chưa quyết định giữa giấy xanh, giấy đỏ ..., tài sản là máy móc ... không có giấy chứng nhận quyền sở hữu (do không có luật sở hữu), luật bản quyền, sở hữu trí tuệ là không thực sự hiệu quả ... đã dẫn đến những khó khăn cho tài sản thế chấp ngân hàng để vay vốn mặc dù điều kiện có bảo đảm bằng tài sản vẫn còn biện pháp an toàn cho ngân hàng.

- Hệ thống các chuẩn mực kế toán của Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với các chuẩn mực kế toán quốc tế. Hiện nay, 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) do Bộ Tài chính. Những tiêu chuẩn này chủ yếu là các chuẩn mực kế toán phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, tuy nhiên, không thực sự đầy đủ vì có những tiêu chuẩn kế toán quốc tế là không phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam.

- Quyết định số 493 và Quyết định số 18 đã tiếp xúc với nhiều bất cập cần được sửa đổi. Có thể kể đến như:

+ Chưa phân loại nợ và trích lập dự phòng đầy đủ cho các hạng mục tài sản "Có" đã phát sinh RRTD, cụ thể là: Các loại hình tiền gửi tại các tổ chức tài chính khác; Giữ đến ngày đáo hạn nợ; Các loại công cụ chuyển nhượng ...

+ Hầu hết các ngân hàng phân loại nợ theo quy định tại Điều 6 của Quyết định 493 có tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Tuy nhiên, các ngân hàng không có một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để hỗ trợ việc phân loại nợ và quản lý chất lượng tín dụng. Điều này cho thấy các kết quả phân loại phản ánh chất lượng vượt trội của nợ tín dụng.

+ Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ theo quy định tại Quyết định 493 mới chung chung, không cụ thể, do đó, các ngân hàng khó khăn khi xây dựng; mức độ hoàn thành và chất lượng là không tốt.

+ Có một số ngân hàng đã xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ khoa học tương đối. Tuy nhiên, vì không có quy định cụ thể cho các hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, do đó, các ngân hàng nói chung và một số ngân hàng đã xây dựng được hệ thống này không đánh giá và khai thác vai trò và lợi ích của việc xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong việc quản lý chất lượng tín dụng, phân loại nợ và các quy định rủi ro. Do các tổ chức tài chính xây dựng một phương pháp riêng đã tạo ra sự không thống nhất giữa các tổ chức tín dụng để quản lý chất lượng tín dụng, phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro; trong khi quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước về phân loại nợ TCTD theo Điều 7 của Quyết định 493 khó khăn, không phù hợp.

- Việt Nam vẫn còn thiếu một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động xếp hạng tín dụng doanh nghiệp. Hiện tại chúng tôi không có hình thức pháp lý tài liệu kinh doanh được công nhận xếp hạng tín dụng là một dịch vụ tài chính cũng như các quy định pháp lý liên quan đến các tiêu chí thành lập của xếp hạng tín dụng của công ty hiện nay Công nghiệp. Mặt khác ở Việt Nam cũng thiếu các văn bản pháp luật quy định doanh nghiệp xếp hạng tín dụng là một công cụ pháp lý để quản lý thị trường tài chính, và đưa ra các biện pháp pháp lý để kiểm tra, báo cáo tài chính đã được kiểm toán bởi màn hình báo động hiện nay.

Xem thêm: Hạn chế trong hoạt động quản lý nợ xấu
thứ mười hai. Điểm yếu của hệ thống thông tin và thiếu minh bạch

Đối với các ngân hàng thương mại của Việt Nam có thể áp dụng các tiêu chuẩn Basel II, các thông tin về thị trường chứng khoán và thị trường vốn là rất quan trọng.

Trong khi đó, ra mắt thị trường chứng khoán Việt Nam cho đến nay chỉ có 10 năm non trẻ và chưa thực sự trở thành môi trường cung cấp thông tin đầy đủ cho các ngân hàng. Ngoài ra, các thông tin kinh tế vĩ mô và vi mô khác vẫn còn là một vấn đề khó khăn cho hệ thống thu thập những ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Mặc dù hiện nay, ở Việt Nam, vấn đề công bố thông tin đã được cải thiện rất nhiều thông qua các thông tin đại chúng, báo chí, phát thanh, internet, đặc biệt là trên một số các bộ phận trang web chính thức như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các cổng thông tin điện tử của Chính phủ, chính quyền thành phố và các tỉnh. Tuy nhiên, thường là các báo cáo này thường ở dạng các báo cáo hàng năm, các sự kiện tương đối lớn thời gian trễ xảy ra. Bởi vì thông tin này là rất khó khăn để hỗ trợ các ngân hàng trong việc dự báo, đánh giá và phòng ngừa rủi ro. Còn lại, các thông tin thống kê cụ thể để các cơ sở dữ liệu cho các sir il ngân hàng hiện nay rất ít, ngoài các trung tâm thông tin tín dụng của ngân hàng trung ương, hầu như tồn tại rất ít các tổ chức có khả năng để đứng lên để thu thập và cung cấp thông tin về thị trường.

Cho đến nay, các kênh cung cấp thông tin về các hoạt động tín dụng được đánh giá tốt nhất tại Việt Nam vẫn là CIC. CIC đã hoạt động trong hơn một thập kỷ, cung cấp tình hình tín dụng kịp thời nhưng vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém. Thông tin vẫn chưa được cập nhật, được cung cấp đơn điệu, chưa hoàn toàn đáng tin cậy. Những thiếu sót trong việc thu thập, quản lý và cung cấp thông tin về thị trường minh bạch sẽ là thách thức đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam trong việc mở rộng và kiểm soát hoạt động tín dụng. Nếu các ngân hàng cạnh tranh bằng cách đuổi theo
thành tích, tăng trưởng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin bất đối xứng chắc chắn sẽ làm tăng nguy cơ nợ xấu.

Các vấn đề chính dẫn đến tình trạng hiện nay về công bố tài chính của doanh nghiệp Việt Nam được thực hiện trên một cách khá ngẫu hứng và tùy tiện, các thông tin cung cấp chưa được xác minh và có thể rất khác nhau từ các số liệu đã được kiểm toán sau này. Mặt khác, các thông tin được cung cấp thường là lựa chọn có lợi cho doanh nghiệp nên thường không đầy đủ và toàn diện

Như vậy, vấn đề thiếu thông tin cũng như không được hỗ trợ đầy đủ về thông tin là một trong những khó khăn lớn nhất mà các ngân hàng thương mại của Việt Nam gặp phải khi áp dụng theo tiêu chuẩn mới của hiệp định Basel. Đây cũng là phần lớn các ngân hàng chuyên gia đồng ý. Trong các tiêu chuẩn Basel bằng cách cung cấp gần 80% của các chuyên gia ngân hàng đánh giá là rất khó thực hiện và đòi hỏi nhiều thời gian để chuẩn bị vì chúng ta thiếu các hệ thống thông tin hỗ trợ.

1.3. Thiếu cơ quan xếp hạng tín dụng, chuyên nghiệp

Nếu thế giới, các ngân hàng đang hỗ trợ rất nhiều các cơ quan xếp hạng tín dụng, chuyên nghiệp và có uy tín, hệ thống ngân hàng Việt Nam còn thiếu các yếu tố.

Basel II dựa trên nhiều yếu tố có thể xác định các yếu tố nguy cơ đối với từng tài sản liên quan đến các nhóm đối tượng khác nhau, nhưng một trong những yếu tố chính là kết quả xếp hạng tín dụng chịu trách nhiệm đáng tin cậy của một tổ chức độc lập. Hầu hết các yếu tố rủi ro của tài sản nhóm từ tiền gửi để đầu tư, cho vay không bị ảnh hưởng bởi các xếp hạng tín dụng, chẳng hạn như tuyên bố về một ngân hàng thương mại được xếp loại AAA + có các yếu tố nguy cơ là chỉ có 20% trong khi cũng phải thu trong các ngân hàng nhưng nếu ngân hàng đó Nó được xếp là B, sau đó các yếu tố nguy cơ có thể lên đến 100% hoặc 150%. Hoặc đầu tư vào trái phiếu của các nước đánh giá cao hơn sau đó sẽ có yếu tố nguy cơ thấp hơn so với các khoản đầu tư vào trái phiếu của các nước đánh giá trung hạn hoặc ít hơn.

Hôm nay thực tế mỗi NH TM Việt Nam đang từng bước xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng cho từng nhóm khách hàng. Tuy nhiên, bảng xếp hạng này chủ yếu là để phục vụ cho quá trình thẩm định, quyết định cho vay của các ngân hàng, rất ít thông tin được chia sẻ, phổ biến rộng rãi bên ngoài, dẫn đến các ngân hàng không Các ngân hàng mà chăm sóc, dẫn đến sự đánh giá là đôi khi đầy với những yếu tố chủ quan cảm xúc chứ không phải là mục tiêu. Ngoài ra, nó cũng dẫn đến kết luận không chính xác chỉ vì những thông tin không đầy đủ.

Ở Việt Nam hiện nay, tổ chức này có thể gọi là xếp hạng tín dụng độc lập bao gồm:

- Thông tin công ty và các công ty xếp hạng (C & R) - thành lập năm 2004, được tách ra từ công ty giải pháp Việt Nam, là doanh nghiệp tư nhân đầu tiên tại Việt Nam để cung cấp tất cả các loại báo cáo tín dụng dựa trên các tiêu chí đánh giá của các tổ chức lớn như Standard & Poor , Moody, Fitch Rating ...

- Trung tâm xếp hạng tín dụng Vietnamnet (CRVC) của các công ty phần mềm và truyền thông VDC, được sinh ra vào ngày 2005/04/06.

- Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) có chức năng để thu thập và cung cấp thông tin tín dụng cho các ngân hàng trung ương, các tổ chức tín dụng - đặc biệt là các ngân hàng và các tổ chức tư nhân khác, chỉ cần thực hiện xếp hạng tín dụng doanh nghiệp (theo Quyết định số 473 / QĐ - NHNN ngày 28 / Tháng 4/2004)

Có thể thấy, so với thế giới, xếp hạng tín dụng của tổ chức là vẫn còn rất trẻ, do đó, để xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu thực sự đủ lớn, đa dạng, chất lượng và được chấp nhận rộng rãi, nó sẽ mất một khoảng thời gian khá lâu. Đó là chưa kể đến các tiêu chuẩn và hệ thống phân loại của các tổ chức đang sử dụng tạm thời từ các tổ chức khác nhau trên thế giới nhưng không thể xây dựng một hệ thống thống nhất các chỉ số cho Việt Nam. Trong khi phương pháp tiêu chuẩn được đưa ra trong Hiệp ước nhấn mạnh vai trò của các cơ quan xếp hạng trong việc phân loại rủi ro của tài sản.

Hoạt động kinh doanh xếp hạng tín dụng đòi hỏi các nhà phân tích tài chính có tầm nhìn sâu. Đó là đòi hỏi quá lớn về nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính mà vẫn còn trẻ và không có nhiều kinh nghiệm ở nước ta hiện nay. Kể từ khi sản phẩm của cũng xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp còn khá mới mẻ với các thị trường tài chính ở Việt Nam, nó là khó khăn để đào tạo một lực lượng lao động căn đủ điều kiện về tài chính nói chung và đặc biệt là trên thị trường chứng khoán đáp ứng các kiến thức chung của nhiều ngành công nghiệp.

Ngoài ra, ở nhiều nước trên thế giới bao gồm Việt Nam, hầu hết các doanh nghiệp không được xếp hạng. Điều này dẫn đến những bất lợi của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam cho tất cả các khoản vay của khách hàng không được đánh giá sẽ tùy thuộc vào mức độ rủi ro là 100%. Hơn nữa, các doanh nghiệp không thể có được xếp hạng dẫn đến các công ty xếp hạng sẽ tiến hành kinh doanh xếp hạng ghi bàn mà không xuất phát từ các yêu cầu của doanh nghiệp. Trong khi đó, điểm xếp hạng từ các công ty này sẽ không cung cấp thông tin chính xác về việc kinh doanh do không đầy đủ và do đó sẽ gây bất lợi cho các doanh nghiệp.

1.4. Vẫn còn tồn tại của sự can thiệp, các cơ quan nhà nước của chính phủ để cho vay của các ngân hàng

Trong những năm trước, sự tồn tại của hoạt động cho vay theo chỉ đạo của Chính phủ, hoặc theo kế hoạch của chính phủ đã gây ra rủi ro lớn cho các ngân hàng thương mại Việt Nam (ví dụ như vay để ổn định giá cả của các sản phẩm nông nghiệp vay cá xa bờ cho vay khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh ... ). Thực tế là nhiều khoản vay như được chỉ ra không chỉ nặng yếu tố như chính sách, biện pháp khuyến khích và chính trị, trong đó bao gồm chủ quan duy ý chí lý, gây thiệt hại lớn về tài năng là tiền cho các ngân hàng thương mại. Như đã thảo luận ở chương 3, tỷ lệ cho vay chỉ định bất chấp
giảm trong những năm qua nhưng vẫn chưa thực sự tách tín dụng ưu đãi với tín dụng thương mại hoàn toàn theo cơ chế thị trường, kết quả trong quản lý, kế toán và phân bổ trách nhiệm, không minh bạch.

1.5. Thiếu sự giám sát chặt chẽ của Ngân hàng Nhà nước

Tình hình cho thấy các hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện chỉ trong các thông tin giám sát từ các báo cáo định kỳ của các ngân hàng thương mại, chế biến và phân tích thông tin là vẫn chỉ mang tính đơn giản, không thực sự chắc chắn thực hiện đúng với ý nghĩa của ngân hàng giám sát một cách thường xuyên liên tục.

Nhìn chung, nội dung của sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông qua các quyết định được ban hành để giám sát hoạt động ngân hàng vẫn chưa đầy đủ. Theo quyết định 457 về các hoạt động của các ngân hàng trung ương giám sát từ xa, giám sát các nội dung mới chỉ định lượng nhưng không có đánh giá định tính về mức độ rủi ro và khả năng quản lý rủi ro của các ngân hàng. Ví dụ, các tiêu chí đánh giá của các ngân hàng RRTD chỉ được phản ánh trong các nội dung giám sát chất lượng tài sản bằng cách kê các khoản nợ quá hạn, hoặc trong việc giám sát các hạn mức tín dụng
ngân hàng của thương mại. Tuy nhiên, điều này là không đủ để đánh giá mức độ rủi ro bởi vì nó cần đánh giá chất lượng hơn như đánh giá các tiêu chuẩn cấp tín dụng và quá trình xem xét đánh giá của cấp tín dụng của các ngân hàng, đánh giá mức độ công bằng trong phân phối các khoản tín dụng ...

Ngoài ra, các hoạt động giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã không tập trung vào hoạt động cảnh báo sớm cho các ngân hàng thương mại. Các hoạt động có nguy cơ cảnh báo sớm rằng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong danh sách và số lượng các ngân hàng thương mại được cảnh báo rằng ngoài xu thế chung của hệ thống hoặc có biểu hiện bất thường cần được điều tra, xem xét và làm rõ. Tuy nhiên, hoạt động giám sát hiện nay cho các ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn chỉ theo dõi, giám sát cá nhân cho từng ngân hàng thương mại. Số tiền để xem xu hướng của hệ thống ngân hàng
Mỗi lĩnh vực ngân hàng hàng vẫn giám sát hạn chế của hoạt động.

2. Các ngân hàng nguyên nhân cơ bản trong quản lý nợ xấu

2.1.Nang tài chính yếu kém

Một trong những khó khăn ảnh hưởng đến việc áp dụng các quyết định Basel II vào hệ thống giám sát và quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đó là chi phí của toàn bộ hoạt động của các tiêu chuẩn Basel II quá lớn. Theo ước tính, các ngân hàng nhỏ phải tiêu tốn khoảng $ 10 triệu, chiếm khoảng 15% vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần.

Trong khi đó, nếu các ngân hàng lớn, chi phí vận hành hệ thống Basel này có thể lên đến $ 200 triệu USD, cao hơn mức vốn pháp định của ngân hàng nhà nước theo Nghị định số 141/2006 / NĐ-CP của Chính phủ. Đây là lý do tại sao có rất ít ngân hàng thương mại tại Việt Nam được áp dụng đầy đủ các tiêu chuẩn và quy định đã được đề xuất hiệp ước.

Ngoài ra, năng lực tài chính yếu kém cũng cản trở các ngân hàng thương mại của Việt Nam trong khả năng cạnh tranh trên thị trường cũng như khả năng để đối phó với những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng thương mại.

2.2. Công nghệ ngân hàng

Trong thực tế, công nghệ hiện đại trong các ngân hàng Việt Nam dù đã được tập trung và xây dựng phù hợp với các ứng dụng của công nghệ mới dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế nhưng vẫn chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ.

Hoạt động tín dụng và giám sát các công nghệ hiện đại, tài chính ngân hàng hết sức cần thiết, ít nhất phải có hệ thống thông tin quản lý (MIS) được cập nhật từ các cơ sở để các giám đốc cơ quan giám sát nhanh chóng và nhạy cảm. Đó chưa bao giờ được thực hiện ở Việt Nam. SB đang xây dựng hệ thống MIS hiện đại có tổng giá trị 70 triệu USD, nhưng phải đến năm 2012 trở đi, các ứng dụng mới có thể được.

Điều đó có nghĩa là các ngân hàng thương mại tại Việt Nam phải chờ cho đến khi thời gian đó các hệ thống phần cứng mới, hệ thống cơ sở dữ liệu để tiến hành phân tích tài chính, vĩ mô, cũng như cập nhật thông tin để phân tích, xác định rủi ro và đưa ra cảnh báo đối với ngành tài chính một cách nhanh chóng và chính xác.

2.3. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế

Trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng không đồng đều, có khả năng hạn chế để thu thập và phân tích thông tin trong việc thẩm định tín dụng và xử lý. Một số cán bộ tín làm việc đạo đức, kỷ luật tự giác, trách nhiệm trong công việc vẫn còn thấp, vi phạm tín dụng, kết quả quản lý lỏng lẻo RRTD phát sinh. Một số cán bộ của hệ thống ngân hàng với cơ chế tiền và những cám dỗ của thị trường, đã đặt lợi ích cá nhân ở trên, lợi dụng công việc được giao để thông đồng với các con nợ, lợi dụng sơ hở của pháp luật để làm giàu bất hợp pháp, gây thiệt hại nhiều tài sản và vốn ngân hàng.

Ngoài ra, nguồn nhân lực trình độ chuyên môn hiện tại và kỹ năng ngôn ngữ để đạt tiêu chuẩn quốc tế là rất hạn chế. Khảo sát của tác giả am hiểu về hiệp ước Basel tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong năm 2011 cho thấy rằng Basel hiệp ước chung, với 16,67% số người được hỏi nói rằng chưa bao giờ nghe nói về hiệp ước Basel, bao gồm Basel I và II, và thực tế là hầu hết các trường hợp là những nhân viên mới tham gia vào các bộ phận kiểm soát tài chính hoặc kiểm soát nội bộ. Gần 80% số người được hỏi nói rằng có nghe nói về hiệp ước Basel nhưng hiểu được hiệp ước này, chỉ có 6,86%. Hơn 70% là thực sự nghe của Basel nhưng không biết nhiều, thông thường chỉ giữ một vài tiêu chí đơn giản như yêu cầu vốn tối thiểu, hệ số CAR và các yếu tố nguy cơ trong việc đánh giá theo hiệp ước RRTD Basel I, những trụ cột cơ bản và nội dung mới thêm vào trong Basel II, có rất ít người biết đến.

Xem xét mối quan hệ giữa quản lý cấp cao của người trả lời với các mức độ hiểu biết của Basel là một trong số 6,86% hiểu biết của Basel, với 14,3% so với 10 năm thâm niên, 43% các nhà quản lý cấp cao từ 5 đến 10 năm và 43% là từ 3 đến 5 năm. Phần còn lại, phần lớn những người được hỏi chỉ giữ một vài quy tắc cơ bản và phổ biến ở Basel. Đối với Basel I, với 40,2% sự tự tin để làm chủ các tiêu chuẩn bằng hoặc trên mức trung bình, trong khi tỷ lệ cho Basel II chỉ là 30%. Có 19,6% số người được phỏng vấn không biết đến Basel II (Basel I là 7,8%). Trong số các quy tắc của Basel II, 39,3% đã được biết đến quy tắc 1 trong yêu cầu vốn tối thiểu trung bình hoặc cao hơn, 60,7% không biết hoặc biết rất ít, chỉ có 13-19% thông tin tương đối tôn trọng các quy tắc 2 và 3 của các quy tắc Basel II.

Những hạn chế nguyên nhân trong quản lý nợ xấu