Hạn chế trong hoạt động quản lý nợ xấu


Có thể tóm tắt lý do cho các hoạt động quản lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam vẫn còn hạn chế do:

Xác định và đo lường chính xác nợ xấu

Theo số liệu công bố trên các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng đã được duy trì ở mức dưới 5%, đạt ngưỡng an toàn theo khuyến cáo của IMF. Tuy nhiên, các tổ chức tài chính cũng như các tổ chức quốc tế đánh giá và xếp hạng có uy tín trên toàn thế giới như Moody, Fitch Ratings tái khẳng định rằng tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các ngân hàng thương mại của Việt Nam không thể làm giảm ngưỡng 13%, thậm chí với tỷ giá ngân hàng thậm chí còn lên đến 30%. Điều này cho thấy rằng có được vẫn còn đánh giá sự khác biệt trong tính toán của các ngân hàng trong nước và quốc tế. Như thế này:

Kết quả đạt được trong công tác quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
Môi trường pháp lý cho việc quản lý các khoản nợ xấu
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc quản lý nợ xấu
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý các khoản nợ xấu
Quan điểm về quản lý nợ xấu
Đầu tiên: Chúng ta có thể thấy ngày nay, phân loại nợ, trích lập và DPRR tại Quyết định 493 được xác định chủ yếu theo Điều 6, dựa trên các vấn đề nợ quá thời gian đáo hạn. Việc phân loại nợ như đã thiếu sự đánh giá cao kết hợp các yếu tố khác như tình hình tài chính, kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này sẽ dẫn đến một đánh giá sai các khoản nợ xấu của ngân hàng khi khách hàng thực hiện hoán đổi nợ, các khoản vay ngân hàng để trả nợ ngân hàng khác.

Vì vậy, thời gian này việc phân loại nợ chỉ phụ thuộc vào nợ tình hình thanh toán mà không cần dựa trên đánh giá về khả năng trả nợ của khoản vay và giá trị thị trường của tài sản thế chấp, sẽ dẫn đến ngân hàng và mỗi khách hàng vay thông đồng với nhau để bù lỗ bằng các phương pháp khác nhau như cho vay hoặc gia hạn nợ cơ cấu lại.

Thứ hai: Do sự khác biệt lớn trong tỷ lệ DPRR tín dụng khấu trừ giữa nhóm 2 và nhóm 3 từ 5% đến 20%, nên dẫn đến tình trạng hiện tại của bản thân ngân hàng cũng đang hoạt động trong các gia hạn nợ, để tạo ra bức màn che giấu nợ xấu , bởi vì nếu đánh cho vay khách hàng lagging vào nhóm 3, nợ DPRR tăng vọt lên 20%, và của một nhóm 4 hoặc nhiều DPRR thậm chí cao hơn. Vì vậy, nhiều ngân hàng đã "linh hoạt" phân loại nợ giới hạn cho các nhóm 3, 4 và 5 để giúp để trích DPRR, tránh ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động và tỷ lệ nợ xấu ngân hàng không phản ánh sáng một thực sự đầy đủ và chính xác.

Thứ ba: Các ngân hàng thương mại chính ở Việt Nam chỉ đánh giá và đo lường rủi ro của các phương pháp đo lường định lượng của các hoạt động quản lý rủi ro Trong RRTD, mặc dù phương pháp đã bắt đầu đo các nội dung của Basel RRTD I và II, nhưng các ngân hàng thương mại ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nội dung này. Hạn chế này được chỉ định bởi:

Hầu hết các phương pháp đo lường rủi ro, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam vẫn chưa áp dụng các phương pháp tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá nội bộ của Basel II.

Để áp dụng Basel II phương pháp tiêu chuẩn để đánh giá và đo lường RRTD, các ngân hàng phải dựa vào xếp hạng tín dụng hoặc xếp hạng tín dụng của ngân hàng cho khách hàng, chứ không phải là một ứng dụng chung của cùng một yếu tố nguy cơ cho tất cả khách hàng. Trong khi các phương pháp tiêu chuẩn của Basel II đánh giá RRTD rằng hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn không được đáp ứng, sau đó áp dụng các phương pháp đánh giá nội bộ của Basel II thậm chí còn khó khăn hơn là phương pháp hon.Ly do trúng đánh giá rủi ro dựa trên nhiều yếu tố khác như trưởng thành có hiệu quả, xác suất mặc định ... trong khi các phân tích, đánh giá rủi ro của khách hàng của một số ngân hàng còn nhiều bất cập, năng lực tài chính của các ngân hàng Việt Nam còn yếu kém, kỹ năng quản lý kinh doanh còn yếu, sự quản lý của ngân hàng rủi ro lỏng lẻo, năng lực thẩm định tín dụng là yếu, có một điều kiện nhiều người vay tại các ngân hàng nhưng không có kiểm tra, đánh giá mức độ rủi ro.

Xem thêm: Kết quả đạt được trong công tác quản lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại
Hiện nay, theo thống kê sơ bộ của các tác giả, các ngân hàng thương mại của Việt Nam vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn thành và đưa vào sử dụng hệ thống tiêu chuẩn xếp hạng tín dụng nội bộ. Về phía các ngân hàng mà nhà nước nắm giữ cổ phần đa số, có ngân hàng 4/5 (tỷ lệ 8 0%) hoàn thành xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và đang trong quá trình áp dụng bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng Vietcombank, Vietinbank, BIDV. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các ngân hàng này là tương đối giống nhau trong nhiều tiêu chí để phân loại và phân loại. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng một tiêu chuẩn chung cho việc đánh dấu của toàn bộ hệ thống. Đối với các ngân hàng thương mại, hiện nay chỉ có một số ít ngân hàng có quy mô lớn và thị trường mới tập trung vào việc xây dựng một hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, bao gồm STB, ACB, MB ..., tỷ lệ số lượng các ngân hàng đã xây dựng được hệ thống này chỉ là khoảng 30 -40% của tất cả các ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam.

Và xem xét toàn bộ hệ thống ngân hàng, tỷ lệ của các ngân hàng áp dụng các phương pháp đo lường định lượng chỉ khoảng 25%.

Ngoài ra, một điều tôi đã nhận thấy trong các hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các ngân hàng hiện nay là các tiêu chí chấm điểm được đặc trưng kết quả chất lượng hơn và định lượng của việc xếp hạng là nhằm nhiều dịch vụ thẩm định cho vay quyết định chứ không phải phục vụ cho việc quản lý rủi ro của ngân hàng. Trong khi đó, so với các hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam như ngân hàng Việt Thái (Vinasiam) hoặc các ngân hàng nước ngoài như Citibank, ANZ, họ sẽ gắn trực tiếp giữa các đánh giá DPRR với tiêu chuẩn an toàn và vốn tối thiểu.

Trong ngắn hạn nợ, xấu tại các ngân hàng thương mại của Việt Nam không được đánh giá đúng đắn một cách có hệ thống, các dự phòng rủi ro sẽ không đủ, và thu nhập ròng vốn của ngân hàng không phản ánh tình hình tài chính ngân hàng thực tế.

Đó là lý do tại sao mà đề nghị trong khi các số liệu thống kê của Việt Nam, các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ 1 hoặc ít hơn số nhưng theo Ngân hàng Thế giới và IMF, trong báo cáo định kỳ, thường được trích dẫn rằng tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam là không ít hơn hai con số.

Hạn chế trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ của ngân hàng

Mặc dù một số ngân hàng thương mại ở Việt Nam bắt đầu áp dụng mô hình kiểm tra, kiểm soát kép, nhưng vẫn là 77% của các ngân hàng thương mại của Việt Nam để áp dụng các bộ điều khiển mô hình, chỉ dựa trên các hoạt động kiểm tra Kiểm tra kiểm soát nội bộ của ngân hàng và sự giám sát của ngân hàng trung ương bên ngoài mà không có sự giám sát của kiểm toán độc lập của cơ quan, sự giám sát của thị trường. Duy trì mô hình điều khiển các ứng dụng như vậy ngày càng tiếp xúc nhiều yếu kém. Chi tiết :.

- Kiểm soát môi trường có nhiều yếu tố không thuận lợi cho công tác kiểm soát nội bộ. Việc phân cấp, phân quyền giữa HĐQT và Giám đốc điều hành, quản lý cấp trung trong Ban Trụ sở chính cho Giám đốc các đơn vị thành viên là không rõ ràng, và không gắn với trách nhiệm cụ thể.

- Mặc dù các kiểm tra ban đầu và kiểm soát nội bộ được tổ chức thống nhất từ Trụ sở chính đến các đơn vị thành viên. Tuy nhiên, tính độc lập của kiểm tra kiểm soát là không cao, đã không đạt được mục tiêu đảm bảo an ninh trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Điều này dẫn đến việc kiểm soát rủi ro - tức là các báo cáo kiểm toán có thể không đầy đủ, không đúng, không kịp thời hoặc không cung cấp các biện pháp phòng ngừa và giải pháp phù hợp.

- Các phòng / ban kiểm toán nội bộ của ngân hàng thường giới hạn ở một số thông tin nhất định. Vì vậy, việc phát hiện các thành phần của kiểm tra kiểm soát nội bộ thường chậm hoặc thiếu thuyết phục, vì không có hành động kịp thời để ngăn chặn rủi ro.

- Phương pháp của bộ máy kiểm tra hoạt động kiểm soát nội bộ chủ yếu là cành ngang, do đó, các thông tin giảm theo chiều thẳng đứng, không đúng với tình hình thực tế.

Hoạt động thanh toán nợ không hiệu quả

Nhìn vào bảng này phản ánh tỷ lệ phần trăm của các biện pháp khắc phục hậu quả và thu hồi nợ của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam có thể được nhìn thấy phương pháp hiện nay được sử dụng chủ yếu là phòng ngừa RRTD sử dụng để bù lỗ. Tại các ngân hàng thương mại, phương pháp này chiếm khoảng 40%. Các phương pháp khác như truy đòi nợ trực tiếp từ khách hàng vẫn chỉ chiếm một tỷ lệ rất hạn chế. Điều này cho thấy rằng hoạt động của các ngân hàng giải quyết nợ thương mại Việt Nam là không thực sự hiệu quả. Việc sử dụng thường xuyên của quỹ cho DPRR nợ xấu sẽ làm cho lợi nhuận trong tương lai của các ngân hàng bị ảnh hưởng, từ đó kéo theo những hậu quả tiêu cực cho doanh nghiệp và làm giảm lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

Hạn chế trong hoạt động quản lý nợ xấu